Lá Chay chữa các bệnh tê thấp , đau lưng , mỏi gối

Cây Chay Bắc Bộ, còn gọi là chay vỏ tía hay chay Bắc,  là một loại cây gỗ mọc ở miền Bắc Việt Nam, nhất là các tỉnh miền núi trung du và thượng du. Ở miền xuôi cũng có trồng. Cây chay là một cây dùng trong y học cổ truyền Việt Nam, quả chay có thể ăn được, quả và rễ chay có nhiều tác dụng trong y học.

Cây Bạch Chỉ Hỗ Trợ Cảm Lạnh - Viêm Mũi - Đau Đầu

Cây bạch chỉ là vị thuốc nam quý hỗ trợ điều trị các chứng bệnh 

khác nhau, đặc biệt là bệnh viêm đại tràng. Ngoài ra, dùng vị thuốc 

này để giúp trị mụn, trị nám và làm đẹp da cho phái đẹp.


Cây Bạch Chỉ
Cây bạch chỉ có tên gọi khác là: Hàng châu bạch chỉ, Hương bạch,
 Bách chiểu, Chỉ hương, Hương bạch chỉ, Xuyên bạch chỉ. Tên 
khoa học: Angelica Dahurica Benth. Et Hook. F. Họ khoa học: Apiaceae.

Mô tả:

Cây cỏ cao khoảng 1m hay hơn, sống lâu năm, thân hình trụ rỗng,
 không phân nhánh. Lá to, có cuống, phần dưới cây phát triển
 thành bẹ ôm lấy thân, phiến lá xẻ 2-3 lần lông chim, mép khía 
răng, có lông ở gân lá mặt trên. Cụm hoa tán kép mọc ở ngọn; hoa
 nhỏ màu trắng và quả bế, dẹt, hình bầu dục hoặc hơi tròn, dài 
khoảng 6mm và toàn cây có mùi thơm.
Mùa ra hoa vào tháng 5 – 6.
Mùa ra quả vào tháng 7 – 8.

Tính vị, quy kinh:

+ Vị cay, hơi ngọt, tính ấm

Phân bố:

Cây bạch chỉ  mọc tốt, cả ở đồng bằng và những vùng núi cao 
mát. Nhưng giống thì chỉ mới để được ở miền núi cao, lạnh. Ở 
Tam Đảo trồng vào tháng 1-2, tháng 4-5 năm sau ra hoa, nhưng có
 những cây trồng vào tháng 7-8 năm trước thì tháng 4-5 năm sau 
cùng ra hoa một lúc với cây trồng tháng 1-2.

Bào chế:

Sau khi thu hoạch Bạch chỉ về, cạo sạch vỏ, thái nhỏ, lấy Hoàng 
tinh với số lượng bằng nhau sau đó  cho vào nồi, đồ 1 lúc, lấy 
Bạch chỉ ra, phơi khô. Hoặc hái về, rửa sạch, cắt ra từng khúc
, trộn với vôi rồi phơi khô. Khi dùng cho vào thuốc thì sao qua; có
 thể sao cháy hoặc tẩm với giấm.

Công dụng:

Theo nghiên cứu dược lý, bạch chỉ có tác dụng kháng khuẩn, 
chống viêm, giảm đau,…
Theo Đông y, cây bạch chỉ có tác dụng tán phong trừ thấp, thông
 khiếu, giảm đau, tiêu thũng trừ mủ,… Thường được dùng làm
 thuốc giảm đau, chữa cảm mạo, viêm xoang, viêm mũi, mụn nhọt 
sưng đau, viêm tuyến vú, thông kinh nguyệt,…

Một số bài thuốc:

Chữa viêm mũi sinh đau đầu:
Bạch chỉ 9g, thương nhĩ tử 9g, tân di 9g, bạc hà 4,5g. Tán mịn, mỗi lần uống 3g, ngày 2 – 3 lần. Dùng 3 – 5 ngày.
Chữa mụn nhọt đau nhức, mưng mủ, nhưng chưa vỡ:
Bạch chỉ 3g, thanh bì 3g, đương quy 4g, tạo giác thích 2g, xương truật 3g, ý dĩ 6g. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng 3 ngày.
Chữa cảm lạnh:
Bạch chỉ 3g, đậu khấu 3g, cam thảo 3g, sinh khương 5g, thông bạch 3g, đại táo 6g. Sắc uống cho ra mồ hôi thì thôi.
Chữa đau bụng kinh:
Bạch chỉ 8g; ngưu tất, đan sâm, mỗi vị 12g; quế chi, can khương, bán hạ chế, uất kim, mỗi vị 8g. Sắc uống trong ngày. Dùng 5 ngày trước kỳ kinh.
Chữa bế kinh do ứ trệ máu:
Bạch chỉ 8g; đan sâm, ngưu tất, mỗi vị 12g; xuyên khung 10g; quế chi, tía tô, uất kim, nga truật, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang. Dùng 5 – 7 ngày trước kỳ kinh.
Trị hôi miệng:
Bạch chỉ 30g, xuyên khung 30g. Tán bột, trộn mật làm viên to bằng hạt ngô, ngày ngậm 2 – 3 viên.

Cây Quýt Gai chữa bệnh thận hư và thận ứ nước

Cây Quýt Gai cây cúc keo, cây quýt gai, quýt hôi, quýt rừng, cam trời, cây độc lực, cây gai xanh, mền tên, tửu bính lặc. Tên khoa học:Atalantia buxifolia. Thuộc họ Cam Rutaceae .
Cây quýt gai chữa bệnh Vảy Nến
Cây Quýt Gai

Mô tả:

Cây cây gỗ nhỏ cao tới 10m, thân có gai. Lá dạng màng cứng, hình bầu dục có ngọn giáo, dài 9-15cm, rộng 3,5-5cm, nhẵn, thót lại hay có mũi nhọn ở chóp, gân con lồi lên ở cả hai mặt; tuyến trong mờ rất rõ. Hoa mọc thành chùm, dài 4cm; quả hình cầu, giống như quả cam nhỏ, đường kính 1-2,5cm, có cơm quả giảm thành những bọng thô sơ. Ra hoa vào tháng 4, quả nhỏ bằng viên bi ve, quả quýt gai khi chín có màu đen có quả vào tháng 6, tháng 8.

Phân bố:

Cây mọc hoang khắp nơi ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung nước ta, thường gặp ở những bờ rào, lẫn với cây tre hay cây bụi khác.

Bộ phận dùng:

Thường người ta dùng cành và lá tươi hay phơi hoặc sấy khô. Quả, rễ – Folium, Fructus et Radix Atalantiae Roxburghianae.
Rễ: thu hái quanh năm, tốt nhất là vào mùa thu, rửa sạch, rễ nhỏ để nguyên, rễ to chỉ lấy vỏ.

Tính vị:

Quả có vị đắng the như Chanh, có tác dụng làm long đờm.

Tác dụng:

Theo y học cổ truyền, cây quýt gai rừng là vị thuốc chữa phong thấp. Dùng toàn cây thái nhỏ sao vàng hạ thổ sắc uống. Ngoài ra, cây gai quýt rừng còn có tác dụng chữa ho, rắn cắn, sâu răng, làm tan được huyết bầm huyết ứ, thông hoạt kinh lạc, trừ tà, giảm đau nhức…

Một số bài thuốc:

1. Trị suy thận, thận hư:
Kết hợp 4 vị thuốc là Cây muối 20 gam, cây quýt gai rừng 20g, cây mực (hay cây phèn đen) 20 gam, cây nổ sâm đất 20 gam.Tất cả đều sao vàng hạ thổ, đem rửa sạch rồi đun với 1,5 lít nước sắc uống, đun cạn còn 500 ml chia 3 lần uống trong ngày.
2. Chữa phong thấp, đau xương, đau mình:
Rễ quýt gai 16g, thổ phục linh 12g, ngưu tất 12g, thiên niên kiện 8g. Tất cả thái nhỏ phơi khô, sắc với nước hoặc ngâm với rượu trong nhiều ngày, càng lâu càng tốt. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 chén nhỏ. Cũng có thể nấu thành cao rồi pha rượu dùng.
3. Chữa ho do phong nhiệt:
Rễ quýt gai 20g, vỏ cây dâu 10g, rễ hoặc lá cam thảo Nam 10g. Ba thứ thái mỏng, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.
4. Chữa chứng ho nhiều đờm:
Quýt xanh 8-16 quả, trộn với 1 thìa nhỏ đường kính hoặc mật ong, một chút muối ăn và 5 g bồ hóng đốt bằng củi. Tất cả đem hấp cơm trong 15-20 phút, lấy ra nghiền nát, trộn đều, chia thành 2-3 phần uống trong ngày.
5. Chữa đinh râu:
Rễ quýt gai và bã rượu lượng 2 thứ bằng nhau giã nhỏ, hơ nóng, đắp hằng ngày.
6. Chữa đau răng, sâu răng:
Vỏ rễ quýt gai cắt nhỏ, nhai với muối, ngậm trong 5 phút, rồi nhổ nước.
7. Chữa kiết lỵ:
Vỏ, thân quýt gai, vỏ quả lựu, vỏ quả chuối hột, rễ tầm xuân, mỗi thứ 20g, búp ổi 10g, thái nhỏ, phơi khô, sắc uống.
8. Chữa đau bụng, lưng, gối đau nhức:
Rễ quýt 15-30 g, sắc nước uống.
9. Chữa cảm, cúm, nhức đầu:
Lá quýt gai nấu cùng với những loại lá thơm khác như sả, cúc tần, đại bi, hương nhu, lá bưởi, lá chanh… đun nước uống và xông cho ra mồ hôi.
10. Chữa sâu răng:
Đào rễ quýt, rửa sạch, thêm chút muối vào nhai và ngậm. Một lát răng sẽ hết đau.
11. Chữa sưng tấy, ứ huyết:
Lá quýt gai 40g, lá bạc thau 40g, trộn chung rồi chia thành 2 phần bằng nhau, một phần đem phơi khô, sao vàng, sắc uống. Phần còn lại để tươi, giã đắp lên chỗ bị thương. Dùng liên tục 3 – 4 ngày.
12. Chữa mụn rò lâu ngày có mủ:
Lá quýt gai 20g, lá chanh 20g, tinh tre 10g. Tất cả phơi khô, tán nhỏ, rây bột mịn, rắc và băng làm 1 – 2 lần trong ngày.
13. Chữa rắn cắn:
Lá quýt gai tươi, rửa sạch, giã nhỏ, thêm ít muối và một chén nước đun sôi để nguội, chắt nước uống, dùng bã đắp vào vết thương.

Mua Cây Quýt Gai ở đâu ? Mua như thế nào ?

- Cây Quýt Gai được bán ở các hiệu thuốc đông y ở các vùng Tây Bắc , dưới dạng nguyên liệu đã được thu hoạch , sấy khô và bảo quản theo tiêu chuẩn dược điển Việt Nam IV .